Thứ Tư, 29 tháng 4, 2020

Đầu được chiếu sáng chính diện - cách vẽ màu nước của Chales Ried

Bước 1 vẽ một hình oval đơn giản và màu nhạt rồi để khô.
Bước 2 pha màu bóng: nhiều màu ít nước. Tô bóng bên trái, chú ý vẽ thoải mái nhưng để ý vị trí và hình dáng của trán, mắt, má, cằm
Bước 3 Làm cho bóng bên phải của đầu. Bạn sẽ thấy hai phần này khác nhau


Bước 4 bây giờ đến các mặt dưới của lông mày, mũi và miệng
Khi ánh sáng chiếu trực tiếp, các mặt này không nổi, nhưng vẫn khá rõ.
Bắt đầu ở 1/3 đầu, vẽ một đường ngang cắt ngang khuôn mặt, dừng lại ngay giữa và hướng xuống một chút.

Bước 5 Rửa cọ và khuấy thật kỹ
Quét cọ xuống xuyên qua nét cọ ở bước 4 để tả mặt bên của mắt
Bước 6 lập lại bước 4 và 5, bắt đầu từ bóng bên kia.
Mắt dĩ nhiên phức tạp hơn thế này nhưng vậy cũng đủ tả cấu trúc ổ mắt và tròng mắt
Bước 7, Vẽ tam giác tối giản, ở vị trí khoảng 2/3 khuôn mặt ở giữa, để tả đáy mũi


Bước 8: Môi trên đã có hình dạng rõ và thực sự không thể chỉ tả bằng một đường ngang đơn giản. Để tả môi, vẽ một nét to ở giữa. Khi vẽ từ bên này sang bên kia, hãy vẽ nét nhỏ hơn, nhấn cọ nhẹ hơn. Ở khóe môi , ấn cọ xuống rồi nhấc lên ngay
Bước 9 Làm nhạt giữa môi bằng cách thấm màu vô khăn giấy
Bước 10  vẽ một đường ngắn dưới miệng

Đầu chiếu sáng một nửa - cách vẽ màu nước theo Charles Reid

Bước 1

Sau khi hòa màu và nước thành màu khá nhạt. Nhúng cọ vào vũng màu và khuấy thật kỹ.
Vẽ một hình oval bằng những nét thoải mái to.
Đừng lo nếu lớp màu có đậm hơn cũng không sao.
Lúc này ta cũng có thể vẽ hai lỗ tai bằng những nét đơn giản rồi để cho lớp này khô.

Bước 2

Pha màu đậm hơn lớp trước, bằng cách dùng ít nước hơn và nhiều màu hơn.
Sau đó lấy thật nhiều màu, khuấy kỹ và bắt đầu tô vùng trán ở bên phải bằng một nét cọ đi xuống và nghiêng, kéo xuống 1/4 chiều dài khuôn mặt, phủ 1/3 chiều rộng
Sau đó vẽ 1 đường rất ngắn sang bên trái để mô tả nơi cầu mũi gặp lông mày
x

Bước 3: Vẽ mũi
Lấy màu lại và từ cầu mũi, vẽ một đường xéo sang phải, dài khoảng 1/3 đầu.
Chỗ chóp mũi, vẽ một đường chéo ngắn khá về phía đối diện để mô tả đáy mũi. Dùng màu đậm hơn để vẽ tai bên phía bóng bên phảit
Ở chóp mũi vẽ một đường rất ngắn và xéo về phía đối diện để mô tả đáy mũi
Dùng màu đậm hơn để chỉ lỗ tai ở phần bóng bên tay phải khuôn mặt



Bước 4
Vùng bên trên miệng
Bắt đầu ở đáy mũi, vẽ một đường xéo về phía phải, giống đã vẽ mũi và trán, nhưng lần này vẽ rất ngắn, chừng nửa chiều dài mũi
Bây giờ đã đến miệng, vẽ một đường rất ngắn về phía trái để tả phía dưới của môi trên
Chú ý: Kéo dài thêm phần bóng dọc bên phải khuôn mặt

Bước 5: Vẽ môi dưới
Môi dưới có thể bắt sáng, nên nét cọ ngắn về phía tay phải, từ phía dưới của môi trên, chừa một khoảng sáng
Vẽ bóng dưới môi dưới bằng một đường chéo ngắn về phía trái
Cuối cùng vẽ một đường đơn giản cong về bên phải rồi quay về vòng quanh cằm

Bước 6
Những nhạt cọ cuối cùng, tả vùng bóng bên trái mắt trái, phần mũi bên trái, phần miệng bên trái
Lưu ý: những phần bóng bên trái này nhỏ hơn và đừng cố gắng vẽ thiệt đúng những shape này .
Thời điểm này không cần vẽ chính xác, chỉ cần khái quát, cho thấy ý niệm của một cái đầu thuần nhất và đơn giản




Đầu chiếu sáng 3/4 - Cách vẽ chân dung màu nước của Charles Reid

Đầu: Sáng 3/4

Bước 1:

Phác khuôn mặt hình oval đơn giản cỡ 15 cm. Đừng vẽ kỹ. Nặn chút màu đen vào pallete. Pha nhạt. Lấy màu. Vẽ nét to trong hình oval. Đừng lo dù có tô lọt ra ngoài hình phác thảo.

Bước 2:

Chờ lớp thứ nhất khô. Nhúng Cọ vào ly nước và khuấy mạnh, rửa.
Lần này pha màu đậm hơn lần trước.
Dùng một hoặc hai nhát cọ vẽ dứt khoát khoảng 3 cm, kéo xuống toàn bộ bên phải khuôn mặt.
Bước 3:

Vẽ bóng mắt: Khoảng 1/3 khuôn mặt, vẽ một đường ngang, dài đến gần giữa mặt.



Bước 4 : Bóng mũi

Bây giờ có lẽ màu trong cọ đã đủ, nên không cần lấy thêm màu
Ngay chỗ vừa vẽ bóng mắt, vẽ một đường dọc xuống hơi nghiêng về phía phải, đó là bóng mũi

Vì chóp mũi to dần nên bóng phải to hơn. Mũi mỗi người khác nhau, nhưng trong hình này, ta vẽ mũi dài bằng 1/3 chiều dài khuôn mặt

Bước 5 : Lấy màu cùng độ đậm với mũi, khuấy màu kỹ rồi hãy vẽ.
Vẽ đáy mũi bằng một đường ngắn nghiêng về phía trái, hướng xuống.
Rồi vẽ một đường chéo xuống dưới về phía phải để nối vào phần bóng chính.

Bước 6: 
Miệng nằm giữa mũi và cằm, nhưng gần mũi hơn.
Từ chỗ vẽ của bước 5, ở bóng chính, vẽ một đường ngang, về bên trái. Dài bao nhiêu là tùy bạn muốn miệng rộng đến đâu.
Cuối nét, ấn cọ xuống để làm nét to hơn, rồi nhấc cọ lên khỏi giấy.




Bước 7
Vẽ bóng dưới dưới môi.

Tiếp tục ở phần bóng chính, bên dưới miệng, ở bên phải, vẽ một đường cong riêng biệt, cho bóng môi dưới.  Không dài bằng miệng, nhưng dầy hơn.

Bước 8
Để hoàn tất, vẽ mắt thứ hai bằng một chấm tròn và ngắn, bên trái khuôn mặt, đối diện mắt phải. 
Vẽ ngắn, thật đơn giản, đừng cố vẽ chi tiết như mi mắt này nọ.
Vẽ thêm lỗ tai bên trái bằng 1 nét cọ, màu nhạt như vẽ khuôn mặt ở bước đầu.
Cuối cùng, vẽ tai phải bằng 1, 2 nhát cọ đậm hơn















Thứ Hai, 2 tháng 3, 2020

4 kỹ thuật tạo rìa

Four Edge Shaping Techniques.

(credit: https://www.handprint.com/HP/WCL/tech23.html)

The illustrations contrast paint (brown) with water (blue), but the same softening techniques work when one type of paint is applied against another — though the dynamics of thick into thin will then be an additional complication.

Hình minh họa này mô tả màu (nâu) trộn với nước (lam), nhưng vẫn đúng cho trường hợp trộn hai màu với nhau, tuy lúc đó phải tính cả chuyện màu đặc loãng nữa.
four wet in wet techniques for shaping edges
1: brushing out painted edges with moist brushstrokes; 2: overlapping wetted area into a prepainted area; 3: overlapping painted area into a prewetted area; 4: applying paint entirely within a prewetted area.
There are four ways to control edges with wet in wet techniques:

1• Brush Out Painted Edges. Paint at any dilution is applied to dry paper, then the edges are edited (blotted, shaped or feathered) with a moist brush containing pure water or diluted paint.

. Xóa rìa màu. Dùng cọ nhúng nước hoặc nhúng màu (loãng đặc đều được), xoa lên giấy khô, chỉnh rìa (xóa rìa, tạo rìa, feathered) bằng cọ ướt nhúng nước hoặc màu pha. 


2• Overlap Water into Prepainted Area. Viscous to diluted paint is applied to dry paper, then the edges are feathered by painting over them with a wicked brush containing pure water or diluted paint.
. Thoa nước lên vùng đã vẽ trước. Thoa màu đặc / loãng lên giấy khô, thì các rìa sẽ feathered vì chồng màu lên bằng cọ nhúng nước hoặc màu pha. 

3• Overlap Paint into Prewetted Area. The edge area (but not the area to be painted) is first wetted with pure water or diluted paint, then when the paper has reached the right wetness stage creamy to watery paint is applied to overlap it.

Đặt màu lên vùng đã làm ẩm trước.  Vùng rìa (nhưng không phải là phần sẽ vẽ) được làm ẩm trước bằng nước hoặc màu pha, rồi khi giấy ẩm đến mức mong muốn, thì chồng màu đè lên

• Paint Entirely within Prewetted Area. The entire painting area, including the area to be painted and a substantial area of paper around it, is wetted first, then when the paper has reached the right wetness stage creamy to watery paint is applied into it.
. Vẽ Hoàn toàn trong vùng làm ẩm trước. Toàn bộ chỗ vẽ, cả vùng sẽ vẽ, lẫn vùng xung quanh chỗ vẽ, được làm ẩm trược, rồi khi giấy đạt độ ẩm mong muốn thì lên màu.



The image below shows this technique used on four different types of pigment; the join between paint and water was made when the paint was at four different stages of wetness. The satin wetness produces the most consistent results.

Hình minh họa Thoa nước lên vùng đã vẽ, với 4 loại chất màu khác nhau và với độ ẩm của màu khác nhau.

overlapping water into painted area

(left to right) cadmium red, benzimida orange, gold ochre and ultramarine violet (all at a fluid paint dilution); (top to bottom) painted area at soaking, shiny, satin or moist wetness when joined with water


Hình minh họa Đặt màu lên vùng làm ẩm trước, với 4 loại chất màu khác nhau và với độ ẩm của vùng làm ẩm trước khác nhau.

overlapping paint into prewetted area
(left to right) cadmium red, benzimida orange, gold ochre and ultramarine violet (all at a fluid paint dilution); (top to bottom) prewetted area at soaking, shiny, satin or moist paper wetness




Hình minh họa Lên màu hoàn toàn trong vùng được làm ẩm trước, với 4 loại chất màu khác nhau và với độ ẩm của giấy khác nhau.

painting entirely within prewetted area
(left to right) cadmium red, benzimida orange, gold ochre and ultramarine violet (all at a fluid paint dilution); (top to bottom) prewetted area at soaking, shiny, satin or moist paper wetness

Flow, backrun & diffusion là gì

flow, backrun & diffusion

chảy xuôi, chảy ngược, khuếch tán


1. Flow. This occurs when the water is pulled by gravity from a higher to a lower location.  high into low

1. Chảy xuôi: chảy do trọng lực hút. Khi nước bị trọng lực hút từ nơi cao hơn đến nơi thấp hơn.  

2. Backrun.  These are created by differences in paper wetness, or unevenness in the distribution of moisture on the paper, which arise because the surface has dried unevenly or because you have added fresh paint to areas that are not completely dried. (Backruns have been given many other names in the watercolor painting literature, including blossoms, ozzles, halos, runbacks and watermarks.)  wet into moist

2. Chảy ngược/loang ngược: do độ ẩm giấy khác nhau, do giấy ẩm ướt không đều, hoặc do cho thêm màu ướt vào một nơi chưa khô hẳn.  (chảy ngược có nhiều tên, trong đó có: blossoms, ozzles, halos, runbacks, watermark...) ướt vào chỗ ẩm

3. Diffusion. This is the movement of paint caused by differences in the concentration of solutes in the water. The rule here is:
thick into thin
meaning the thicker concentrations of paint will try to diffuse into thinner concentrations, and any concentration of paint will try to diffuse into pure water. 

2. Khuếch tán/loang/lan tỏa: do màu đặc loãng khác nhau gây ra.  Màu đặc sẽ chảy vào chỗ loãng. Chỗ có màu sẽ chảy vào chỗ toàn nước.



Ví dụ minh họa:

The figure below shows what happens when a mixture of phthalo green (PG36) is joined to an area of clear water (a).

Cho màu xanh phthalo vào vùng chỉ thoa nước:

diffusion <—> backrun
the paper is level and stretched, to eliminate flow



Kiểm soát backrun bằng cách nào?

brush wetness: the engine of backrun effects



This diagram makes three points: (1) backruns occur when brush wetness is greater than paper wetness; (2) as the difference between brush and paper wetness gets larger, the backruns increase in size; and (3) the backrun is most sensitive to the difference between brush and paper wetness when the paper has a satin to moist wetness. Even so, brush wetness (when the brush is charged with water or diluted paint) is the primary control you have over backruns.

Biểu đồ này cho thấy ba điểm:
1. Backrun xảy ra khi cọ ướt hơn giấy
2. độ ẩm của cọ và giấy càng khác nhau, thì backrun càng to
3. backrun thay đổi nhiều theo chênh lệch độ ẩm của cọ và giấy khi giấy ẩm từ mức satin đến moist.  Cho dù vậy, thì độ ẩm của cọ là yếu tố  quan trọng để kiểm soát backrun.


Giải thích sơ lược về ba độ ẩm của giấy, cọ và màu


Wet in wet effects result from an imbalance of wetness between paper, brush and fresh paint:

Hiệu ứng ướt-trên-ướt là do độ ẩm của giấy, cọ và màu tạo ra.

• Paper wetness. Paper is wet in two different dimensions: surface moisture and core or inner moisture. Surface moisture primarily affects the behavior of the paint. Inner moisture adds to the wetness of the surface moisture, and increases the time it takes the paper to dry from evaporation.
Độ ẩm của giấy. Giấy ướt 2 mức: bề mặt và trong lõi (core/inner).  Độ ẩm của mặt giấy chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi của màu. Độ ẩm bên trong lõi làm bề mặt thêm ướt, và tăng thời gian để giấy khô. 
• Brush wetness. The wetness of the brush is the amount liquid it can release over a given area of already wet paper. This depends on the brush capacity (tuft size and type of hair or bristle), the charge (how much water it contains), the release (the speed, angle and pressure of your brushstroke), and the amount of water already on the paper (the brush/paper balance). 
Độ ẩm của cọ. Là lượng chất lỏng cọ thả (release) ra trên một vùng giấy ẩm. Điều này tùy vào khả năng giữ nước của cọ (kích cỡ và loại lông), khả năng giữ nước, khả năng thả nước (tốc độ, góc độ và sức ấn cọ ), và lượng nước có sẵn trên giấy (cân bằng giữa cọ/giấy).

• Paint wetness (dilution). Paint dilution affects the thickness or viscosity of the paint, which determines how much liquid will release from the brush (the paint/brush balance) and how rapidly the paint will diffuse or expand on wet paper (the paint/paper balance).
Độ ẩm của màu (pha đặc loãng). Màu đặc hay loãng quyết định lượng nước cọ thả xuống và  mức độ màu lan tỏa trên giấy ướt.  

It is your awareness of this three way moisture balance, and your ability to adjust exactly the balance of moisture in paper, brush and paint, that determines your control over the outcomes of wet in wet painting.
Biết cân bằng ba ẩm độ này, sẽ quyết định kết quả vẽ ướt-trên-ướt. 


the three sided balance of wet in wet painting

Visualizing Wetness. The ability to accurately judge paper wetness is essential to wet in wet painting technique, and this ability is strengthened if you can visualize what is actually happening on top of and inside the paper. 

Mô tả độ ẩm của giấy. Khả năng đánh giá chính xác độ ẩm của giấy rất quan trọng đối với kỹ thuật vẽ ướt trên ướt, và khả năng này sẽ tốt hơn nếu có thể tưởng tượng ra điều gì đang xảy ra trên bề mặt và bên trong tờ giấy.

cross section views of six levels of paper wetness
biểu diễn mặt cắt mô tả sáu mức ẩm của giấy



Paper Wetness.  Imagine wetness as layers of water, with soaked paper represented by many layers of moisture, and damp by only a single thin layer. Dry paper forms the foundation.

Hãy tưởng tượng độ ẩm là các lớp nước, mức ướt sũng thì có nhiều lớp nước, còn mức ẩm damp chỉ có một lớp nước mỏng, còn khô là nền giấy.


The balance point between paper wetness and brush wetness. If we arrange brush wetness along the bottom of the paper wetness diagram, then this balance point forms a diagonal line from dry brush on dry paper to dripping brush on soaked paper.

Điểm cân bằng của độ ẩm giấy và cọ.  Mô tả phối hợp từ cọ khô trên giấy khô đến cọ sũng nước lên giấy sũng nước.
the balance point between paper wetness and brush wetness
typical of a #10 to #12 sable round or a 3/4" sable flat on heavy weight, cold pressed (CP) watercolor paper


Using a #12 sable round charged with pure water or watery paint, the different combinations of brush and paper wetness produce the effects shown below. The size of the circles shows the vigor and size of resulting backruns; a solid dot indicates no effect.
Hiệu ứng tạo ra khi dùng cọ tròn số 12, nhúng nước tinh khiết hoặc màu cực loãng, độ ẩm của cọ và giấy sẽ tạo ra các hiệu ứng như sau. Cỡ vòng trỏn cho biết đốm màu loang ngược to và loang nhanh cỡ nào, còn chấm đặc cho biết không có hiệu ứng. 



Backrun, cauliflower trong màu nước nghĩa là gì?


Backrun/cauliflower:  When a puddle of water spreads back into a damp region of paint, as often happens when a wash dries unevenly, the water tends to push pigment along as it spreads, resulting in complex, branching shapes with severely darkened edges.

(Credit: https://www.handprint.com/HP/WCL/tech23.html)

Loang ngược/bông cải: Khi 1 vũng nước nhỏ nước tỏa ngược vào một vùng màu ẩm, như thường xảy ra khi một lớp loang màu khô không đều, nước này có khuynh hướng đẩy chất màu ra khi lan tỏa, kết quả là ta có những hình dáng phức tạp, phân nhánh có rìa rất đậm. 



Ảnh hưởng của độ ướt lên các đốm màu loang (backrun)



wetness effects on paint backruns
(hình chụp khi màu đã khô hoàn toàn)

A backrun created by floating a moderately diluted yellow paint onto a light blue wash.

Một đốm màu loang ngược (bông cải) được tạo ra bằng cách thả màu vàng hòa nước vừa phải vào một lớp wash màu lam nhạt.

  • Soaked (5). The surface of the wash is still in solution; the added paint floats in this solution with a very diffuse boundary. There is little or no darker blue fringe around the spot, because there has been no capillary diffusion.
  • Ướt sũng (5). Bề mặt lớp wash lam vẫn chưa ổn định; màu thêm vào sẽ nổi trong dung dịch này, rìa rất nhòe. Có rất ít hoặc không có rìa lam viền quanh lớp wash, vì không khuếch tán dạng tia. 
  • Shiny (4). The added paint diffuses over the surface of the paper, carrying the blue pigment before it; this creates a darker "penumbra" around the yellow spot, which ceases to flow outwards when the surface has dried to wetness 2.
  • Loáng nước (4): Màu thêm vào khuếch tán trên bề mặt, đẩy màu lam ra trước; tạo nên một penumbra (vùng rìa quanh màu vàng) sẫm màu hơn quanh đốm vàng, đốm vàng này không lan tiếp nữa khi bề mặt khô đến mức 2. 
  • Satin (3). The diffusion outward is less aggressive, and the outer contour of the penumbra shows a characteristic "crinkling" or crenelation.
  • Óng ánh (3). Việc khuếch tán màu ra ngoài chậm hơn, và viền ngoài của penumbra (vùng rìa quanh màu vàng) đã bắt đầu thấy có "nếp gấp" hoặc crenelation (lỗ châu mai). 
  • Moist (2). The paint diffuses outward, but there is little or no penumbra distinct from the edge of the yellow paint. The outline of the backrun is crinkled or crenelated, although this is hard to anticipate because drying at this stage can happen quickly.
  • Ướt lấp nhấp (2). Màu tỏa ra ngoài, nhưng có ít hoặc không có penumbra (vùng rìa với màu vàng) rõ rệt nữa. Đường nét của backrun nhiều nếp gấp hoặc crenelated, mặc dù khó đoán trước vì giai đoạn này giấy khô rất nhanh. 

  • Damp (1). The paints behave as if the undercoat is completely dry. The only effect of the dampness in the paper is that it noticeably delays the drying time of the yellow paint.


    • Ẩm (1). Màu lan như thể lớp wash bên dưới khô hoàn toàn rồi. Ảnh hưởng duy nhất của việc giấy ẩm là màu vàng khô chậm hơn thấy rõ. 

    Blender - How to fix some errors (updating)

    I. Mirror not working:  1. Shift S and select World of origin or Shift C 2. Select the object, right-click then select 3D cursor https://www...